Thời gian qua câu chuyện “công nghiệp 4.0” hay “cách
mạng công nghiệp lần thứ tư”, viết tắt là CMCN4, được nói nhiều ở nước
ta, thậm chí nghe thấy ở ta còn nhiều hơn ở các nước phát triển. Nhưng
dường như mới có các bài viết từcác phóng viênbáo đài và chỉ đạo về công
nghiệp 4.0 từ các nhà lãnh đạo, những người quản lý… và còn ít tiếng
nói từ những người làm khoa học và công nghệ (KH&CN), những người ít
nhiều hiểu về nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp này.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là gì?
Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở nước Anh từ nửa cuối của thế kỷ 18.
Đến nay đã có sự nhìn nhận thống nhất về ba cuộc cách mạng công nghiệp
đã xảy ra, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất
của sản xuấtvà sự thay đổi này được tạo ra bởi cácđột phá của khoa học
và công nghệ. Về đại thể cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra
vào nửa cuối thế kỷ 18 và gần nửa đầu thế kỷ 19, với thay đổi từsản
xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước. Cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 19 cho
đến khi đại chiến thế giới lần thứ nhất xảy ra, với thay đổi từ sản xuất
đơn lẻ sangsản xuất hàng loạt bằngmáy móc chạy vớinăng lượng điện. Cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra từ những năm 1970s với sự ra
đời của sản xuấttự động dựa vào máy tính và thiết bị điện tử (thập niên
1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970, 1980), và internet (thập niên
1990).Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là đã bắt đầu từ vài năm gần đây, đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… với nền tảng là các đột phá của công nghệ số (digital technology) [1], [2].
Khái niệm “công nghiệp 4.0” được đưa ra
vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương
trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm thay đổi và nâng cao giá trị
của nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức. Có thể xem cuốn sách
“Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (The Fourth Industrial
Revolution), của giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và điều hành Diễn
đàn Kinh tế Thế giới WEF, là tuyên ngôn về cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư.

Không chỉ nước Đức với chương trình Công nghiệp 4.0, các nước phát triển trong vài năm qua đều có các chương trình chiến lược về sản xuất trong tương lai khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh. Nước Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” (National strategy for advanced manufactoring in the United States) cho ba thập kỷ tới3, nước Pháp có “Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp” (The new face of industry in France) 4, Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai” (Korea’s Future Growth Program) 5, Trung Quốc có “Làm tại Trung Quốc năm 2025” (Made in China 2025) 6… Ngay cả khi ta chỉ xem cái tên “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” mới có tính chất dự báo và chưa xảy ra, vẫn không thể bỏ qua sự thật là các cường quốc đang chuẩn bị chiến lược phát triển sản xuất cho một tương lai gần.
Không chỉ nước Đức với chương trình Công nghiệp 4.0, các nước phát triển trong vài năm qua đều có các chương trình chiến lược về sản xuất trong tương lai khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh. Nước Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” (National strategy for advanced manufactoring in the United States) cho ba thập kỷ tới3, nước Pháp có “Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp” (The new face of industry in France) 4, Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai” (Korea’s Future Growth Program) 5, Trung Quốc có “Làm tại Trung Quốc năm 2025” (Made in China 2025) 6… Ngay cả khi ta chỉ xem cái tên “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” mới có tính chất dự báo và chưa xảy ra, vẫn không thể bỏ qua sự thật là các cường quốc đang chuẩn bị chiến lược phát triển sản xuất cho một tương lai gần.
Và tới đây việc sản xuất ngày càng thông
minh, càng hiệu quả của các cường quốc này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến
các nước khác. Mỗi quốc gia, dù đang ở vị thế nào trên bản đồ phát triển
của thế giới, cũng phải tìm ra cách phát triển trong sự thay đổi do
cuộc cách mạng công nghiệp này đem lại để quyết định đi như thế nào,
trước hết cần hiểu rõ hơn về CMCN4.
Báo chí thường mô tả CMCN4 với các thành
tựu của Trí tuệ Nhân tạo (TTNT), vớimáy móc tự động và thông minh như
ô-tô tự lái, in ấn 3 chiều (3D printing), kết nối vạn vật (IoT), công
nghệ sinh học và công nghệ nano… Nhưng cốt lõi của những đột phá này là
gì?Có hay không điểm chung của các đột phá đó?
Có thể nói rằng đó chính là đột phá của
công nghệ sốtrong những năm vừa qua, tiếp nối thành quả của cuộc cách
mạng số hoá (digital revolution) diễn ra trong mấy chục năm từ khi có
máy tính, tức từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Vậy cách mạng số
hoá và công nghệ số là gì? Công nghệ số giống công nghệ thông tin
không? Những đột phá của công nghệ số là gì lại có thể tạo ra một cuộc
cách mạng công nghiệp?
Các thực thể trong thế giới quanh ta ở
dạng vật chất vốn có của chúng. Chiếc ô-tô là một khối sắt thép có thể
chuyển động khi được đổ xăng và được điều khiển. Cây lúa, con tôm là
những sinh vật được sinh ra và lớn lên. Con người là sinh vật phức tạp
nhất mà chỉ riêng bệnh tật và sức khoẻ đã là động lực của một khoa học
luôn được quan tâm hàng đầu: khoa học sự sống (life science). Sự ra đời
của máy tính đã dẫn đến cuộc cách mạng số hoá, nhất là khi máy tính cá
nhân và internet xuất hiện, ngày càng gắn bó với các hoạt động của con
người. Sở dĩ vậy vì máy tính chỉlàm việc với hai con số ‘0’ và ‘1’. Để
tính toán trên máy tính cho các thực thể ta cần biểu diễn được
chúngbằngnhững con số ‘0’ và ‘1’ trên máy tính theonhững mô hình và cách
thức thích hợp nào đó. Ta gọi các biểu diễn này là‘phiên bản số’ của
các thực thể.Có thể hình dung một cách đơn giản những ‘phiên bản số’ của
một chiếc ô-tôlà số liệu kỹ thuật của các bộ phận và liên kết của chúng
trong quá trình sản xuất, hoặc có thể là số liệu vềchuyển động của xe
và các ảnh số thu được từ camera của xe khi xe chạy trên đường. Những
‘phiên bản số’ của cây lúa, con tôm có thể là hệ gien của chúng, hoặc dữ
liệu về sự biến đổi của chúng theo những thay đổi của môi trường. Những
‘phiên bản số’ của mộtngười có thể là những ý kiến của người này trên
facebook, những số liệu đo được từ các thiết bị đeo trên người
(wearable) hay bệnh án điện tử của người này trong cơ sở dữ liệu ở bệnh
viện.
Tạo ra ‘phiên bản số’ của các thực thể
chính là việc số hoá (digitalization), và công việc được làm khắp nơi
này đã được ẩn dụ gọi là cuộc cách mạng số hoá. Các ‘phiên bản số’ chính
là dữ liệu (data) của các thực thể, có được do quan sát, thu thập, đo
đạc… và việc xử lý các dữ liệu này để tìm ra ý nghĩa của chúng, chính là
tìm ra thông tin,là mục tiêu chính yếucủa ngành công nghệ thông tin
(CNTT).
‘Phiên bản số’ của các thực thể cho phép
ta nối chúng với nhau trên các hệ thống máy tính hoặc nối chúng vào
internet, và tạo ra các không gian số (cyberspace) tương ứng với thế
giớithực thể của chúng ta (physical world). Những hệ thống kết nối các
thực thể và ‘phiên bản số’ của chúng được gọilà các hệ kết nối không
gian số-thực thể, tạm dịch theo nghĩa của từ cyber-physical systems. Đây
là một khái niệm cơ bản của CMCN4, phản ánh mối liên hệcủa sản xuất
tiến hành trong thế giới các thực thể nhưng quá trình tính toán được làm
trên không gian số và kết quả tính toán này được trả lại dùng chosản
xuất trong thế giới các thực thể. Đây là thay đổi cơ bản về phương thức
sản xuất của con người, sản xuất được điều khiển và hỗ trợ quyết định từ
không gian số.Trong những năm vừa qua, các tiến bộ đột phá của công
nghệ số đã và đang cho phép thực hiện các tính toán phức tạp liên quan
đến trí thông minh con người, làm cho sản xuất thông minh và hiệu quả
hơn.
Công nghệ số là công nghệ về các tài
nguyên số, khởi đầu từ giữa thế kỷ trước, đã và đang thay đổi nhiều lĩnh
vực. Có hai khía cạnh của công nghệ số, một là việc số hóa và hai là
việc quản trị và xử lý các dữ liệu được số hóa. Thí dụ của số hoá trong
các ngành nghề khác nhau như chụp ảnh đã chuyển từ ảnh phim qua ảnh số,
từ máy ảnh cơ qua máy ảnh số; việc inấn dựa vào ảnh số và chế bản điện
tử cho chúng ta có sách báo như ngày nay; kỹ thuật truyền hình đã chuyển
sang truyền hình số đẹp hơn rất nhiều; công nghệ truyền tin đã thay thế
các tín hiệu tương tự bằng các tín hiệu số, truyền và nhận tín hiệu số
trên những đường truyền hiệu năng cao…
Công nghệ số có phần chung rất lớn với công nghệ thông tin, đó là phần quản trị và xử lý dữ liệu được số hoá. Trải qua các làn sóng của công nghệ số 6, những đột phá trong thời gian gần đâynhư điện toán đám mây, thiết bị di động thông minh, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT… đang tạo điều kiện cho sản xuất thông minh được thực hiện rộng rãi, mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Hình 2).

Hình 2.Các làn sóng của công nghệ số.
Công nghệ số có phần chung rất lớn với công nghệ thông tin, đó là phần quản trị và xử lý dữ liệu được số hoá. Trải qua các làn sóng của công nghệ số 6, những đột phá trong thời gian gần đâynhư điện toán đám mây, thiết bị di động thông minh, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT… đang tạo điều kiện cho sản xuất thông minh được thực hiện rộng rãi, mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Hình 2).
Hình 2.Các làn sóng của công nghệ số.
Trí tuệ nhân tạolà lĩnh vực nhằm làm cho
máy tính không những biết tính toán mà còn có các khả năng của trí
thông minh con người, tiêu biểu là các khả năng lập luận, hiểu ngôn ngữ
và biết học tập. Trong lịch sử 60 năm phát triển của TTNT, ngành học máy
(machine learning), nhằm làm cho máy có thể tự học để nâng cao năng lực
hành động, là lĩnh vực sôi động nhất của TTNT trong hai thập kỷ qua. Có
thể định nghĩa học máy là việc phân tích các tập dữ liệu ngày càng lớn
và phức tạp để đưa ra các quyết định hành động. Thí dụ đó là các quyết
định khi chương trình AlphaGo của Google đánh thắng nhà vô địch cờ Vây,
là quyết định trong các phần mềm dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác
hay các phần mềm nhận biết tiếng nói con người, là các quyết định chẩn
đoán bệnh của hệ Watson của hãng IBM… Gần đây, với sự bùng nổ của dữ
liệu, kết quả của việc số hoá và kết nối internet khắp nơi,khoa học dữ
liệu (data science)-với trung tâmlà phân tích dữ liệu (data analytics)
dựa vàohọc máy vàthống kê-đang trở thành nền tảng của CMCN4.Có thể nói
hầu hết các ứng dụng được nói dưới tên TTNT trong CMCN4 đều chủ yếu dựa
vào các phương pháp của học máy cùng tiến bộ của kết nối thực thể và các
hệ thống tính toán.
Rất nhiều đột phá trong công nghệ sinh
học và công nghệ nanonhững năm qua, và các công nghệ này cũng liên quan
rất nhiều đến công nghệ số. Gần đây việc số hoá trong sinh học phân tử
đã trở nên dễ dàng với giá rẻ hơn rất nhiều (một hệ gien có thể được số
hoá trong vài giờ đồng hồ với chi phí ít hơn một nghìn đô-la). Lĩnh vực
tin-sinh học (bioinformatics)-dựa vào các phương pháp của học máy để
phân tích nguồn dữ liệu sinh học khổng lồ nhằm khám phá các hiểu biết về
sự sống- đang góp phần vào những tiến bộ của công nghệ sinh học, mở ra
nhiều triển vọng cho y học và nông nghiệp.Công nghệ nano cũng có những
bước tiếnhứa hẹn dựa vào công nghệ số. Gần đây nước Mỹ khởi đầu chương
trình nghiên cứu lớn về vật liệu tính toán (materials genome initiative)
[7], nhằm dùng các kỹ thuật của học máy để rút ngắn giai đoạn thử
nghiệm trong phòng thí nghiệm khichế tạo các vật liệu mới.Một chương
trình tương tự ở Nhật cũng đã bắt đầu từ hai năm qua.
Những tiến bộ thường được nói đến trong
CMCN4 cho các thực thể vật lý như ô-tô tự lái, in 3D hay robot thông
minh đều liên quan rất nhiều vào công nghệ số.Đại thể khi một chiếc ô-tô
tự lái chạy trên đường, rất nhiều phương pháp học máy được sử dụng để
xác định đường đi của ô-tô, các thực thể chuyển động quanhvà tương tác
với ô-tô,và phân tích để đưa ra quyết định chuyển động của ô-tô.
Những điều cốt yếu tóm tắt về CMCN4 là
cơ sở để ta xem xét cầnđi như thế nào trong cuộc cách mạng này. Phần
tiếp theo trao đổi nhanh một vài ý kiến chủ quan của người viết khi
những nghiên cứu, thảo luận và quyết định cần được tiến hành một cách hệ
thống và nghiêm túc, tránh những tuyên bố vội vã đi trước nhận thức.
Trước hết, để đi trong CMCN4 cần biết ta
đang ở đâu trong các cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra? CMCN2?
CMCN3? Ta đã có những yếu tố nào của CMCN4? Rồi ta muốn đến đâu, muốn có
vị trí nào trên bản đồ phát triển của thế giới khi rất nhiều quốc gia
khác cũng sẽ CMNC4? Sau nữa, cần nhìn CMCN4 là cuộc cách mạng của sản
xuất thông minh nhưng không nhất thiết chỉ là các lĩnh vực của sản xuất
công nghiệp. Cốt lõi là ta có thể thực hiện đến đâu sự thay đổi phương
thức sản xuất mới này trong những việc ta muốn và cần làm.
Có những thứ ta phải lựa chọn làm đòn
bẩy để phát triển, như ta đã chọn nông nghiệp và du lịch, và có những
thứ ta không thể chọn mà nhất thiết phải làm như giáo dục, môi trường và
y tế. Phải chăng đi trong CMCN4 của ta trước hết chính là làm nông
nghiệp và du lịch thông minh, là làm giáo dục, môi trường và y tế thông
minh khi biết lựa chọn và có thể làm chủ những công nghệ số và các công
nghệ cao cần cho mình?
Chẳng hạn thử nghĩ về nông nghiệp trong
CMCN4. Nếu ta muốn nuôi trồng một số ‘cây và con’để tham gia thị trường
quốc tế, thì rất cần biết ở những nơi khác ai cũng nuôi trồng những cây
và con này, sản lượng các nơi đó có thể là bao nhiêu, nhu cầu thị trường
ra sao. Cần thu thập dữ liệu về những điều này và từ đó tính toán để có
những dự báo và quyết định xác đáng. Nông nghiệp thông minh cũng nằm ở
việc chuyển dịch một phần diện tích lúa sang các cây trồng, vật nuôi
khác có giá trị cao hơn lúa.Việc dịch chuyển ở đâu, chuyển bao nhiêu,
giá trị cao hơn bao nhiêu… đều cần và có thể tính toán được nhờ khoa học
dữ liệu. Chẳng hạn trong việc nuôi tôm, tạo ra các giống tôm không
thoái hoá cũng như thức ănthích hợp cho chúng cần được nghiên cứu với
việcsử dụng công nghệ số. Từ đây từng bước ta có thể tiến đến nông
nghiệp chính xác (precision agriculture) cho nhiều ‘cây và con’.
Du lịch của ta trong CMCN4 cũng cần được
phát triển một cách thông minh với hỗ trợ của công nghệ số. Sự thông
minh thể hiện ở chỗ phải tính toán được lợi hại của các dịch vụ, tuyên
truyền sâu rộng cho người dân thấy lợi ích của dịch vụ chất lượng cao
cũng như thiệt hại của ‘ăn xổi’ để khách ‘một đi không trở lại’ hoặc
khách lan truyền các điểm yếu kém của du lịch Việt Nam trên không gian
mạng. Việc giới thiệu du lịch cũng cần dựa trên các công nghệ số hiện
đại. Cách làm của Uber dùng công nghệ số để cung cấp tiện ích cho khách
hàng rất đáng học tập cho các hoạt động du lịch ở Việt Nam.Dùng được
công nghệ số có thể tạo ra và cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách du
lịch, làm cho du khách thậthài lòng khi đến Việt Nam.
Chúng ta cần tìm cách số hoá được sông
ngòi, tính toán và mô phỏng được các tình huống lũ lụt có thể xảy ra để
có phương án thích hợp, tránh tình trạng phải xả lũ nhưng không biết
thiệt hại sẽ xảy ra thế nào.
Trong Y tế, CNTT của ta lâu nay góp phần
vào quản lý bệnh viện, nhưng còn íttrong việc khám chữa bệnh. Tiến bộ
của công nghệ số ngày nay cho phép số hoá tình trạng bệnh tật và chăm
sóc y tế của mỗi người dân trong bệnh án điện tử, là nền tảng của Y tế
Điện tử (e-health). Có thể khai thác bệnh án điện tử để tìm ra các tri
thức y học, hỗ trợ chẩn đoán, cảnh báo sai sót, gợi ý điều trị, dự đoán
tác dụng phụ của thuốc...
Ta cần xem xét tác động của CMCN4 lên
hầu hết mọi lĩnh vực của xã hội, cần sử dụng công nghệ số, dùng khoa học
dữ liệu trong các ngành tài chính, ngân hàng, năng lượng, giao thông
vận tải… Chẳng hạn, ùn tắc giao thông có thể được cải thiện nếu ta tự
động phân tích được tình hình giao thông từ dữ liệu số thu bằng các cảm
biến gắn trên một số xe và máy quay ở những điểm chọn lựa (thay vì các
tình nguyện viên gọi điện thoại báo về tổng đài).
Ta cần tìm cách thay đổi giáo dục, để
lớp công dân mới có tri thức và kỹ năng thích ứng được với thay đổi do
cuộc cách mạng công nghiệp mới, để nâng cao những phẩm chất và tính nhân
văn của con người mà máy không bao giờ có được.
CMCN4 mở ra một cơ hội phát triển cho Việt Nam. Sở dĩ vậy vì cuộc
cách mạng công nghiệp này không như những cuộc cách mạng công nghiệp
trước nhằmvào… công nghiệp, là lĩnh vực ta có khoảng cách rất lớn so với
các nước phát triển, mà nhằm vào công nghệ số, đem tiến bộ của công
nghệ số tới mọi lĩnh vực khác. Nếu xét về công nghiệp ô-tô, công nghiệp
robot… ta có thể cách các nước phát triển nhiều chục năm, thậm chí cả
trăm năm, nhưng ta có thể cách không xa các nước này ở một số công nghệ
số, nếu có cách làm.CMCN4 sẽ tác động lên mọi người và có sự tham gia rộng rãi của nhân dân, nhưng trước hết được tạo ra và thúc đẩy bằng chiến lược và chính sách quốc gia, bởi thay đổi mạnh mẽ của các doanh nghiệp, và bởi lực lượng tinh hoa của khoa học và công nghệ đất nước. CMCN4 không thể làm chỉ bởi ý chí mà phải bằng tri thức, bằng những công nghệ tiên tiến của TTNT, của khoa học dữ liệu, của kết nối thế giới thực và không gian số, của công nghệ sinh học và khoa học vật liệu…
May mắn thay CMCN4 diễn ra trên các tiến bộ của công nghệ số, của học máy và khoa học dữ liệu, là những lĩnh vực cần có nền tảng của toán học sâu sắc. Chúng ta đào tạo tương đối tốt về toánhọc và công nghệ thông tin và có khả năng đào tạo tốthơn. Xây dựng được lực lượng, phát triển khoa học dữ liệu và sử dụng được khoa học dữ liệu rộng rãi sẽ cho phép ta ‘thu hẹp khoảng cách số’ trong nhiều lĩnh vực, có thể tạo ra sự đột phá cho nhu cầu phát triển của đất nước. Việc làm chủ được công nghệ số đòi hỏi đầu tư hiệu quả cho các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng chọn lọc, cần rất nhiều thay đổi ở các viện-trường và doanh nghiệp, và đương nhiên cả ở cách làm của nhà nước.
Có một lực lượng chuyên gia người Việt về học máy và khoa học dữ liệu cũng như rất nhiều người Việt trẻ có kiến thức và kỹ năng trong các lĩnh này đang làm việc ở ngoài Việt Nam. Kết nối được lực lượng này với trong nước là một điều rất cần làm.
------------------
Tài liệu tham khảo chính1. Klaus Schwab, The Fourth Industrial Revolution.
2. Enabling the Next Production Revolution: Implications for Policy, Alistair Nolan, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, Hội nghị Việt Nam học, 12.2016.
3. National strategy for advanced manufactoring in the United States https://www.uschamberfoundation.org/bhq/us-manufacturing-strategy.
4. The new face of industry in France http://www.gouvernement.fr/en/the-new-face-of-industry-in-france-building-the-industry-of-the-future.
5. Korea’s future growth program http://www.eastwestcenter.org/sites/default/files/private/api111.pdf
6. Made in China 2025 http://english.gov.cn/2016special/madeinchina2025/https://www.jst.go.jp/crds/pdf/2015/FU/CN20150725.pdf.
7. Super smart society, http://www8.cao.go.jp/cstp/kihonkeikaku/5basicplan_en.pdf
8. How digital technology will transform the world, Fujitsu Journal, 1.2016, http://journal.jp.fujitsu.com/en/2016/01/12/01
9. Materials Genome Initiative, https://www.mgi.gov
*Tác giả làm việc trong lĩnh vực Trí
tuệ nhân tạo và Học máy từ 1980, và hiện là Giáo sư phụ trách phòng thí
nghiệm về Khoa học Dữ liệu tại Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản (Japan
Advanced Institute of Science and Technology); là thành viên Ban chỉ
đạo (steering committee) các hội nghị của vùng Châu Á-Thái Bình dương về
Trí tuệ nhân tạo (PRICAI), Khai phá Dữ liệu (PAKDD) và Học máy (ACML);
hiện đang phụ trách đề tài của dự án FIRST của Bộ KH&CN, gồm sáu
chuyên gia người Việt ngành Học máy từ Mỹ, Úc, Ba Lan và Nhật, đang tham
gia vào các hoạt động của lĩnh vực này ở Việt Nam.